Sản phẩm


Tên tiếng anh | Mugwort |
Màu sắc | Xanh |
Số hạt/gói | 50 hạt |
Phủ hạt khi gieo | Không. Dùng bình phun sương tưới đẫm cho hạt bám vào chất trồng |
Thời gian nảy mầm | Ngải cứu cần ủ trong khăn ẩm sạch đựng trong hôp nhựa kín trong ngăn mát tủ lạnh 15 - 22 ngày sau đó mang ra ngoài ủ ở nhiệt độ thường |
Tỉ lệ nảy mầm | > 80 % |
Tác dụng | Dùng để chữa bệnh, hỗ trợ điều trị một số tình trạng bệnh về tiêu hóa, ăn uống, ho sốt. |
Xuất xứ | Việt Nam |
Khí hậu trồng | Xứ lạnh - Xứ nóng |
Thời điểm gieo trồng | Quanh năm |
Thời gian thu hoạch /ra hoa | 85 ngày |
Chiều cao cây | 40 -60 cm |
Loại hoa/cây | Lâu năm |
Ngải cứu còn có tên thuốc cứu, ngải diệp (miền Nam), nhả ngải (tiếng Tày), quá sú (H'mông), cỏ linh li (Thái), danh pháp hai phần: Artemisia vulgaris, là một loài thực vật thuộc họ Cúc (Asteraceae).
- Ngải cứu có nguồn gốc ôn đới ở châu Âu, châu Á, bắc Phi, Alaska và bắc Mỹ, trong đó một số vùng coi nó là cỏ dại xâm lấn.
- Ngải cứu là cây thân thảo, sống lâu năm, lá mọc so le, chẻ lông chim, phiến men theo cuống đến tận gốc, dính vào thân như có bẹ, các thùy hình mác hẹp, đầu nhọn, mặt trên màu lục sậm, mặt dưới phủ đầy lông nhung màu trắng. Những lá ở ngọn có hoa không chẻ.
- Cây cỏ, sống nhiều năm, cao 0,4 - 1m; cành non có lông. Lá mọc so le, phiến lá xẻ lông chim, mặt trên xanh sẫm, mặt dưới màu trắng xám, có lông. Vò nát có mùi thơm hắc. Cụm hoa hình đầu nhỏ, màu vàng lục nhạt, mọc tập trung thành từng chùm kép ở đầu cành. Quả bế nhỏ, không có túm lông.
- Ngải cứu thường được mọc hoang ở khắp các vùng miền trên cả nước, người ta cũng thường trồng quanh nhà, quanh nhà thuốc,…
- Người ta thường sử dụng lá hoặc ngọn vào mùa hè để tươi hoặc cũng có thể phơi khô trong bóng râm. Ngải cứu phơi khô có thể tích trữ được lâu, lá ngải cứu phải khô còn được gọi là ngải điệp, còn phơ khô mà cắt thành bột vụn lọ lấy lông trắng và tơi người ta gọi đó là ngải nhung.